Tìm kiếm sản phẩm: Tìm nâng cao

Đặc điểm của con giun quế hay giun đất

Đăng ngày: 16/03/2014 16:38
Đặc điểm của con giun quế hay giun đất
con giun quế
Giun quế là loài giun đất ăn tạp nhưng thức ăn mà chúng ưa thích là phân, chúng có thể hoàn toàn sống trong phân mà không cần đất

Giun đất chứa 72% protein (trong khi đó cá ngon chiếm 67%, đậu tương 45%, các loại thịt 50%). Viện Đại học Adelade (Australia) phân tích giun E. foctida có 62 - 64% protein; 7 - 10% lipid; 0,55% canxi; 1% phospho; 8 - 10% tro khoáng; 3.900 - 4.100 Kcal/kg. Đặc biệt bột giun đất chứa đủ các loại axit amin với tỷ lệ khá cao.

So sánh tỷ lệ các loại axit amin của bột giun đất với bột thịt và bột cá:

Axit amin

Bột giun đất

Bột thịt

Bột cá

Agrínin

4,13

3,48

3.9

Cystin

2,29

1,07

0,8

Axit glutamic

-

-

8,4

Glycin

2,92

7,09

4,4

Histidin

1,56

0,97

1,5

Isoleucin

2,58

1,33

3.6

Leucin

4,84

3,54

5,1

Lyzin

4,33

3,08

6,4

Methionin

2,18

1,45

1.8

Phenilalanìn

2,25

2,07

2,6

Cerin

2,88

2,15

-

T reonin

2,95

1,77

2,8

T ryptophan

-

-

0,7

Tyrozìn

1,36

1,29

1,8

Valin

3,01

2,22

3,5

Protein thô, %

61.0

51,0

60,9

Giun quế có hàm lượng đạm cao, chiếm tới 70% trọng lượng khô. chúng có thể sống và ẩn náu dưới các thảm thực vật dày, dưới viên gạch, hòn đá, các miếng gỗ hoặc ngay dưới lớp phân, rãnh nước cạnh chuồng gia súc, gia cầm. Giun quế có màu nâu tím, ánh bạc, có thân hơi dẹp, nhỏ thanh mảnh, có tới 120 đốt, thân dài từ 10 - 15 cm. Phía gần đầu có một cái đai, đó là đai sinh dục. Đai sinh dục này nằm ở đoạn từ đốt thứ 18 đến đốt thứ 20. Giun quế là loài năng động, chui luồn rất nhanh.

Giun quế là loài giun đất ăn tạp nhưng thức ăn mà chúng ưa thích là phân, chúng có thể hoàn toàn sống trong phân mà không cần đất. Chúng thích ăn phân gia súc như phân trâu bò, ngựa, phân lợn chúng cũng ăn nhưng không thích bằng phân trâu bò và ngựa, phân gà công nghiệp có thể dùng làm thức ăn cho giun nhưng phân gà ta thì hoàn toàn không nên vì hàm lượng lân trong phân gà ta quá cao.

Giun quế sinh sản rất nhanh, nếu điều kiện thuận lợi chúng tăng theo cấp số nhân.

Tuy cơ thể giun quế thanh mảnh, bé nhỏ nhưng số lượng lại nhiều nên sinh khối tạo ra rất lớn. Vì vậy, nuôi giun quế làm thức ăn cho vật nuôi: vịt, ngan, ngỗng và các loài thuỷ sản là rất hợp lý.

con giun quế

Đặc điểm hình dáng cấu tạo của con giun quế

Cơ thể của giun quế như một cái ống có 2 lớp: Lớp ngoài là thành cơ và lớp trong là ruột. Giữa 2 lớp có chứa một dịch lỏng gọi là dịch thể xoang. Lớp cơ lại có 2 lớp: Lớp cơ vòng và lớp cơ dọc. Hai lớp này hoạt động nhịp nhàng giúp giun bò rất nhanh. Lớp bên ừong của giun hoàn toàn là ống tiêu hoá. Thức ăn sẽ đi qua miệng, qua hầu rồi xuống thực quản, đi tiếp qua diều, qua mề rồi xuống ruột và cuối cùng bị đẩy ra qua hậu môn. Cả cơ thể giun như là một ống tiêu hoá. Trong ống tiêu hoá này chứa đầy các hệ vi sinh vật cần thiết. Bản thân giun không đủ sức chuyển hoá trực tiếp các chất hữu cơ thành năng lượng mà chính các hệ vi sinh vật trong ống tiêu hoá của giun đảm nhận công việc này.

Giun không có phổi mà chỉ hô hấp qua đa nôn nếu da bị khô là giun chết. Do đó, giun luôn phải sống ở nơi ẩm ướt. Vào những lúc mưa rào ta thường thấy giun bò lên mặt đất, đó có thể do mưa xuống dí chặt đất làm bùn bám chặt quanh cơ thể của giun cản trở sự hô hấp của chúng nên chúng phải bò lên mặt đất nhằm rửa trôi đất bám - tập tính này như một bản năng của loài giun. Vì vậy, trong kỹ thuật nuồi giun phải dùng chiếu rách, bao tải,... đậy kín hố hoặc luống nuôi giun không để mưa xối vào.

Hệ thần kinh của giun chưa phát triển, nhưng các tế bào thụ cảm nằm rải rác trén cơ thể cũng giúp chúng nhận biết ánh sáng, nhiệt độ, áp suất khí quyển và những dấu hiệu của thời tiết. Chúng “dự đoán” thời tiết rất giỏi, ví dụ: hễ có giông bão là giun ngoi lên mặt đất và bò đi khắp nơi. Do đó, người nuôi giun phải biết được đặc điểm này của giun để thiết kế hố, luống,... nuôi giun sao cho chủ động ngăn chặn trường hợp này.

Mặc dù khả năng “ngửi” của giun kém nhưng chúng cũng phân biệt được các loại thức ăn khác nhau. Trong một luống nuôi giun có thể tìm tới chỏ có thức ăn mà chúng cho là ngon nhất.

Giun là loài lưỡng tính. Trên mỗi con giun đểu có cả bộ phận sinh dục đực (tinh hoàn) và bộ phân sinh dục cái (buồng trứng). Khi muốn sinh sản giun phải quấn nhau, lúc đó yếu tố đực của con này sẽ chuyển cho yếu tố cái của con kia và ngược lại. Đai sinh dục từ đốt thứ 18 đến đốt thứ 22 có màu nhạt hơn cơ thể, được hình thành khi giun trưởng thành. Ở các đốt thứ 6, thứ 7 và thứ 8 có 3 đôi lỗ nhận tinh mở ra ở mặt bụng. Còn ở đốt thứ 18 thì có 2 lỗ đực. Như vậy các bộ phận đực, cái lại nằm xa nhau nhưng chúng đều nằm ở nửa đầu của cơ thể. Các tế bào đực hình thành trong 2 cặp tinh hoàn (hình bầu dục, màu vàng nhạt) và thông với túi chứa tinh. Sau khi thành thục, tế bào đực sẽ đi qua phễu dẫn tinh để tới 2 lỗ đực.

Trong tự nhiên, chờ khi sương đêm đã xuống, giun mới bò lên mặt đất tìm nhau. Chúng tiến sát đến nhau theo hướng ngược chiều, con này gối lên con kia, bụng sát bụng. Lúc này cả hai đều tiết ra dịch nhầy để hỗ trợ cho việc “giao phối”. Con nào cũng hoạt động như một con đực. Chúng co cơ để tiết tinh dịch và đẩy tinh dịch vào túi nhận tinh của con kia. Khi hoàn thành nhiệm vụ chúng từ từ tách ra khỏi nhau. Tinh trùng sẽ nằm trong túi nhận tinh mà không được thụ tinh ngay vì rằng ở giun trứng lại chín chậm hơn vài ngày so với sự thành thục của tinh trùng. Dịch nhầy tiết ra tạo thành một vòng, khi vòng nhầy bong ra nó sẽ tuột lên phía trước. Lúc đi qua lỗ cái, nó sẽ nhận một ít trứng chín, còn khi đi qua cặp túi nhận tinh nó sẽ nhận tinh trùng mà con kia đã “gửi” đó từ trước. Sự thụ tinh sẽ xảy ra ngay trên vòng nhầy, vòng nhầy tuột tiếp lên phía trước và rơi ra ngoài. Lúc này, nó tự thắt 2 đầu lại để thành kén. Kén có màu nâu và chuyển dần sang màu nâu sẫm. Khi sấp nở nó lại chuyển thành màu xám đen có hình ô van. Mỗi kén có từ 1 - 20 trứng (trung bình là 7 trứng). Sau 2-3 tuần giun non tự cắn thủng kén để ra ngoài, lúc này giun chỉ dài khoảng 6-10 mm. Giun non hoạt động ngay, ăn rất khoẻ, chỉ sau 1,5-2 tháng là đai sinh dục bắt đầu hình thành, nhưng chúng chỉ thực sự thành thục sau 3-4 tháng.

Giun đẻ rất khoẻ, thường thì mỗi tuần đẻ 1 lần và 3 tuần sau kén nở, 3 tháng sau thành giun trưởng thành. Giun mẹ sống tới 12 năm mà vẫn đẻ. Vì tất cả các thế hệ đều đẻ nên chúng tăng đàn theo cấp số nhân. Nhờ đặc điểm này mà từ phân gia súc bà con có thể tạo ra một lượng lớn giun quế có nguồn đạm động vật cao để làm thức ăn cho các loài vật nuôi trong nông hộ như gà, vịt, ngan, ngỗng và các loài thuỷ đặc sản,...

Mời bà con xem tiếp những bài viết sau về kỹ thuật nuôi giun, chắc chắn sẽ rất hữu ích cho bà con trên con đường của mình
| Chia sẻ |
THẢO LUẬN  
Chưa có thảo luận nào
Ý KIẾN CỦA BẠN  
  Hãy đăng nhập để thảo luận

Tin cùng loại cũ hơn