Tìm kiếm sản phẩm: Tìm nâng cao

Sinh lý sinh dục con chim mái

Đăng ngày: 05/03/2014 10:03
Sinh lý sinh dục con chim mái
chim bồ câu
Sự rụng trứng ở chim chịu sự điều khiển của các nhân tố hocmon. Các hocmon FSH và LH kích thích sự sinh trưởng và sự chín của các tế bào sinh dục trong buồng trứng

Sự hình thành mầm của tuyến sinh dục cái xảy ra vào thời kỳ đầu của sự phát triển phôi. 4 - 5 ngày tuổi. Tới ngày ấp thứ 7- 9, ở buồng trứng đã thể hiện sự không đối xứng, buồng trứng bên phải ngừng phát triển và thoái hoá dần. Buồng trứng trái tiếp tục phát triển, phân ra thành lớp vỏ và lớp tuỷ. ở vỏ xảy ra quá trình sinh sản của các tế bào sinh dục đầu tiên - noãn bào. Đến ngày ấp thứ 12, ống dẫn trứng được phân thành loa kèn, phần tiết lòng trắng và tử cung.

Buồng trứng nằm ở phía trái của khoang bụng, về phía trước và hơi thấp hơn thận trái, được đỡ bằng các nếp gấp của màng bụng từ trên xuống. Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào trạng thái chức năng và tuổi của chim. Chim trong thời kỳ đẻ mạnh, buồng trứng có hình chùm nho, khối lượng đạt 55g, vào thời kỳ thay lông, khối lượng buồng trứng giảm còn 5g. Ở đà điểu, tổng chiều dài của ống dẫn trứng khoảng 118cm và đường kính là 3 cm. Lòng đỏ trên buồng trứng có đường kính từ 1-8 cm.

Buồng trứng có miền vỏ và miền tuỷ. Bề mặt vỏ được phủ bằng một lớp biểu mô có lớp tế bào hình trụ hay lăng trụ thấp. Dưới chúng có 2 lớp nang với các tế bào trứng. Nằm ở lớp ngoài là những nang nhỏ có đường kính đến 400 micron, trong lớp sâu hơn có những nang lớn hơn với đường kính 800 micron hay to hơn.

Chất tuỷ được cấu tạo từ mô liên kết, có nhiều mạch máu và dây thần kinh. Trong chất tuỷ có những khoang được phủ bằng biểu mô dẹt và tế bào kẽ.

Sự tạo trứng

Sự phát triển tế bào trứng có 3 thời kỳ: sinh sản, sinh trưởng và chín... Quá trình phát triển tế bào sinh dục cái xảy ra không chỉ là sự thay đổi cấu trúc và kích thước của nó mà còn thay đổi cả bộ máy thể nhiễm sắc của nhân tế bào.

Thời kỳ sinh sản xảy ra trong quá trình phát triển phôi và kết thúc khi gà nở. Như đã kể trên, do kết qủa của rất nhiều lần phân chia liên tiếp, số lượng noãn nguyên bào trong buồng trứng đạt đến hàng ngàn chiếc, nhưng phần lớn các noãn bào này tị thoái hoá nên đến khi thành thục, số lượng của chúng bị giảm đi rất nhiều. Khác với tế bào sinh trưởng, trong noãn bào có nhân to với hạt nhân nhỏ và thể nhiễm sắc, không có trung thể. Sau khi kết thúc quá trình sinh sản, các tế bào sinh dục được hình thành gọi là noãn bào cấp I.

Thời kỳ sinh trưởng được chia thành thời kỳ sinh trưởng nhỏ và thời kỳ sinh trưởng lớn. Thời kỳ sinh trưởng nhỏ kéo dài từ khi chim nở đến khi thành thục sinh dục. Đầu tiên là sự phát triển chậm của noãn bào cấp I. Thời gian này, nhân vẫn nằm ở trung tâm tế bào trứng, sau đó tương bào được chuyển sang bên cạnh và tạo đĩa phôi. Lòng đỏ được đắp vào bởi những lớp màu sáng và màu sẫm. Ở tâm có lòng đỏ sáng hình phễu, từ nó có vệt nhỏ đi ra rìa tế bào trứng - đó là rãnh lòng đỏ. Phía trên lòng đỏ là đĩa phôi. Các tế bào nang xung quanh noãn bào đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành lòng đỏ.

chim bồ câu

Thời kỳ sinh trưởng lớn dài 4 - 13 ngày và đặc trưng bằng sự lớn rất nhanh của lòng đỏ. Trong thời gian này lòng đỏ tích lỹ 90 - 95% vật chất, thành phần của nó gồm protein, photpholipit, mỡ trung tính, các chất khoáng và vitamin. Đặc biệt, lòng đỏ được tích luỹ mạnh nhất ở ngày thứ 9 đến ngày thứ 4 trước khi trứng rụng. Vào thời kỳ này trên bề mặt tế bào trứng hình thành lớp vỏ lòng đỏ đàn hồi với một hệ mao mạch phát triển, chúng mang chất dinh dưỡng đi vào lòng đỏ làm cho nó lớn lên rất nhanh. Việc tạo lòng đỏ có tính chu kỳ. Lòng đỏ sẫm được tích luỹ trong cả ngày đến nửa đêm, khi nồng độ cảoten trong máu còn cao; còn lòng đỏ sáng - trong phần còn lại của đêm, khi lượng sắc tố trong máu đã giảm đi rất nhiều. Việc tăng quá trình sinh trưởng của tế bào trứng là do ảnh hưởng của foliculin, việc chế tiết nó ở buồng trứng tăng đồng thời với lúc bắt đầu thành thục sinh dục. Vào cuối thời kỳ phát triển của tế bào trứng, giữa vỏ lòng đỏ và thành nang xuất hiện khoang gần lòng đỏ, chứa đầy limpho. Trong đó noãn bào bơi tự do và các cực của nó nằm theo cực hướng tâm: cực anivan (cùng đĩa phôi) hướng lên trên, còn cực thực vật xuống dưới. Noãn bào đã hình thành chính là lòng đỏ. Màu của lòng đỏ phụ thuộc vào các sắc tố trong máu: carotenoit, carotin và xantofil. Màu đậm nhất của lòng đỏ thường gặp ở chim được ăn đầy đủ carotenoit trong thức ăn.

Thời kỳ chín của noãn bào: xảy ra 2 lần phân chia liên tiếp của tế bào sinh dục, số nhiễm sắc thể giảm đi 2 lần, vì vậy sự phân chia này được gọi là giảm nhiễm hay phân bào giảm nhiễm. Trước khi bắt đầu phân chia chia lần thứ nhất, trong nhân của noãn bào cấp I (noãn nguyên bào) xảy ra việc kéo dài nhiễm sắc thể và số lượng của chúng tăng gấp đôi. Nhân tiến dần đến bề mặt của noãn bào. Những nhiễm sắc thể giống nhau xích gần nhau để tạo thành từng cặp, còn màng nhân biến mất. Kết quả lần phân chia thứ nhất tạo thành 2 tế bào: noãn bào cấp II và tiểu thể thứ nhất (thể cực thứ nhất) mà trong hạt nhân của chúng có bộ nhiễm sắc thể 1n. Quá trình này được hoàn thành ở buồng trứng trước khi trứng rụng. Sự phân chia lần thứ hai ở phễu của ống dẫn trứng. Khi đó từ noãn bào cấp II tạo nên tế bào trứng chín và tiểu thể thứ hai (cực cầu) cũng có bộ nhiễm sắc thể đơn bội 1n. Như vậy, do kết quả phân chia giảm nhiễm, trong tế bào trứng chín có một nửa số nhiễm sắc thể. Tiểu thể thứ nhất có thể phân chia làm hai cực cầu khác. Các cực cầu không phát triển và dần dần bị tiêu biến.

Quá trình thoát khỏi buồng trứng của tế bào trứng chín gọi là sự rụng trứng. Trong nang đã chín, áp suất thấm thấu của dịch nang tăng lên, dẫn tới sự phá vỡ vách nang tại vùng lỗ thở (đai trứng - stigma) - chỗ đối diện với đĩa phôi, vách nang mỏng đi do những thay đổi thoái hoá dưới tác dụng của các hocmon, nên nó bị vỡ ra. Có ý kiến khác cho rằng, lỗ thở bị kéo ra bằng các sợi cơ riêng, khi đó các mạch máu ở vùng lỗ thở co lại và nang vỡ không bị chảy máu. Nang vỡ trong khoảnh khắc. Qua kẽ nứt mới được tạo ra, tế bào trứng rơi vào loa kèn hay là phễu của ống dẫn trứng. Do chuyển động liên tục của thành phễu mà phễu thu được trứng ở đây. Nếu có tinh trùng thì việc thụ tinh tế bào trứng sẽ xảy ra ở ngay trên thành phễu.

Sự rụng trứng ở chim xảy ra một lần trong ngày. Trứng bị giữ lại trong ống dẫn trứng làm ngừng trệ sự rụng trứng tiếp theo. Nếu lấy trứng ra khỏi tử cung, thì cũng không làm tăng nhanh sự rụng trứng được. Tính chu kỳ của sự rụng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc, lứa tuổi và trạng thái sinh lý của chim... việc nuôi dưỡng kém, không đủ ánh sáng và nhiệt độ không khí trong chuồng cao cũng làm chậm sự rụng trứng và đẻ trứng. Người ta đã biết được mối liên quan giữa việc rụng trứng và chế độ ngày chiếu sáng. Nếu nuôi chim ban ngày trong nhà tối, còn ban đêm cho ánh sáng nhân tạo, thì sự rụng trứng và đẻ trứng sẽ chuyển sang ban đêm.

Sự rụng trứng ở chim chịu sự điều khiển của các nhân tố hocmon. Các hocmon FSH và LH kích thích sự sinh trưởng và sự chín của các tế bào sinh dục trong buồng trứng. Phần mình, các tế bào nang tiết estron trong khi trứng rụng, kích thích hoạt động của ống dẫn trứng. Estron ảnh hưởng lên tuyến yên, ức chế việc tiết FSH, như vậy sẽ làm chậm việc chín tế bào trứng ở buồng trứng. Hocmon LH điều khiển việc rụng trứng của chim. Tuyến yên ngừng tiết nó khi trong ống dẫn trứng có trứng, do đó ức chế sự rụng trứng của tế bào trứng chín tiếp theo. LH chỉ được tiết vào buổi tối, sự chiếu sáng làm ngừng trệ việc tiết nó, do vậy, sự rụng trứng sẽ bị ngừng lại. Người ta cho rằng ở chim từ lúc bắt đầu tiết LH đến lúc rụng trứng kéo dài khoảng 6 - 8 giờ. Vì vậy việc chiếu sáng thêm vào các giờ buổi chiều và tối làm chậm việc tiết LH, do đó làm chậm quá trình rụng và đẻ trứng 3 - 4 giờ. Tăng giờ chiếu sáng lên 14- 17 giờ/ ngày làm tăng sản lượng trứng của chim mái nhưng không nên tăng vào buổi chiều và buổt tối là vì vậy.

Chức năng của ống dẫn trứng của chim mái

Ông dẫn trứng có hình ống, ở đó xảy ra việc thụ tinh và hình thành vỏ trứng. Kích thước ống dẫn trứng thay đổi theo lứa tuổi và tình trạng hoạt động của hệ sinh dục. Khi bắt đầu thành thục sinh dục, ống dẫn trứng là một ống trơn, thẳng có đường kính như nhau trên toàn bộ ống. Sau khi đẻ quả trứng đầu tiên, ống dẫn trứng của chim có chiều dài 35-40 cm. Vào thời kỳ đẻ trứng mạnh, chiều dài của nó tăng tới 50cm. Ở gia cầm thành thục sinh dục, ống dẫn trứng có 5 phần sau: phễu, phần lòng trắng, cổ, tử cung và âm đạo.

Phễu - phần mở rộng của phía đầu ống dẫn trứng. Bề mặt niêm mạc phễu xếp nếp, không có tuyến.

Chuyển động nhu mô của phễu có khả năng bắt lấy tế bào trứng khi nó rụng xuống từ buồng trứng. Lòng đỏ nằm ở phễu khoảng 15-29 phút. Lớp lòng trắng đầu tiên được bao bọc xung quanh tế bào trứng tiết ra ở cổ phễu. Lòng trắng này đặc, quấn ngay lòng đỏ. Khi đi qua phần đầu của ống dẫn trứng, lòng đỏ lăn chậm trong lòng cổ phễu, làm cho lớp lòng trắng đặc xung quanh mình nó vặn xoắn lại, tạo ra 2 cuộn dây chằng ở 2 đầu lòng đỏ, có tác dụng giữ cho lòng đỏ luôn nằm ở tâm trứng. Trên các nếp nhăn của phễu thường có rất nhiều tinh trùng, chúng sống nhờ một phần dinh dưỡng trong dịch ở các nếp này và thụ tinh ngay khi gặp lòng đỏ vừa rụng xuống.

Phần tạo lòng trắng - là phần dài nhất của ống dẫn trứng, khi gà đẻ mạnh, phần này dài đến 30 - 50cm. Niêm mạc của ống có nhiều nếp xếp dọc. Trong đó có nhiều tuyến hình ống, cấu tạo giống như tuyến ở cổ phễu. Chất tiết của tuyến là lòng trắng, bao quanh lòng đỏ, chúng gồm nhiều lớp: phía trong đặc, phía ngoài loãng.

Co (eo) là phần hẹp lại của ống dẫn trứng, dài 8cm. Niêm mạc có những nếp xếp nhỏ. ở đó lòng trắng loãng được bổ sung thêm, đồng thời các tuyến ở eo tiết ra các sợi chắc, đan vào nhau để hình thành 2 lớp màng chắc dính sát vào nhau, chỉ tách nhau ở đầu lớn của trứng, đó là màng dưới vỏ cứng. Hình dạng của trứng được quyết định ở đây.

Dạ con là đoạn tiếp theo của eo, đó là phần mở rộng , thành dày, chiều dài 10 - 12cm. Các nếp nhăn của niêm mạc phát triển mạnh, và xếp theo hướng ngang và xiên. Tuyến của vách dạ con tiết ra chất dịch lỏng, bổ sung vào lòng trắng, chúng thấm qua các màng dưới vỏ trứng vào lòng trắng. Trong thời gian trứng ở dạ con, khối lượng trứng tăng gần gấp đôi. Vỏ trứng được hình thành do chất tiết của tuyến dạ con. Vỏ trứng được cấu tạo từ cốt hữu cơ và chất trung gian. Cốt được hình thành bằng những sợi protein dạng colagen nhỏ chồng chéo lên nhau. Chất trung gian cấu tạo từ những muối canxi ở dạng hợp nhất không tan - canxi cacbonat (99%) và canxi photphat (1%). Sự tổng hợp chất vôi được tiến hành trong suốt thời gian trứng nằm ở dạ con (18 - 20 giờ), lúc này bề mặt của các màng dưới vỏ dính chặt vào thành dạ con, do đó các màng này giãn ra. Trương lực của cơ dạ con tăng đồng thời, nó tiếp xúc chặt với trứng và tiết chất khoáng lên bề mặt màng vỏ trứng.

Đầu tiên lớp vỏ ngoài được tạo thành, được cấu tạo từ những nhú, đầu trên của nhú cắm sâu vào bề mặt ngoài của lớp dưới vỏ, còn phần chân rộng thì hướng vào vách dạ con. Nhú cấu tạo từ tinh thể canxi cacbonat (canxita). Lớp nhú chiếm 1/3 độ dày vỏ. Từ bên ngoài, lớp nhú được phủ một lớp màng bền chắc. Nền móng của lớp này là các sợi collagen được tạo bởi chất dịch của tuyến ở phần trước dạ con. Phần trung gian giữa các sợi chứa muối canxi, làm cho vỏ trứng được chắc.

Khoảng không gian của các nhú không chứa chất khoáng, ở đây có các lỗ khí, các lỗ này xuyên qua độ dày bền chắc và được mở ra trên bề mặt của vỏ trứng. Số lượng các lỗ phù hợp với số lượng lỗ ống của tuyến dạ con. Các lỗ phân bố trên bề mặt vỏ trứng không đều: phần nhiều là tập trung trên đầu tù của trứng, vùng buồng khí và ít hơn cả là ở đầu nhọn của trứng. Trong một vỏ trứng gà có tới 8 nghìn lỗ khí. Tuyến dạ con còn sản xuất ra các sắc tố làm cho vỏ trứng có màu khác nhau.

Men cacbonic anhydraza và photphataza kiềm tham gia tích cực vào trong quá trình hình thành vỏ trứng, Cacbonic anhydraza xúc tác vào ự hình thành anion cacbonat từ axit cacbonic và nước. Phophataza kiềm xúc tác quá trình chuyển ion canxi để tổng hợp các chất vô cơ của vỏ. Người ta đã luận rằng ở chim đẻ, trong biểu mô dạ con chứa một lượng cacbonnic anhydraze nhiều hơn hẳn ở chim không đẻ. Các chất ức chế cacbonnic anhydraze phá huỷ quá trình hình thành vỏ trứng... Nếu thừa chất đó thì trứng đẻ ra không có vỏ.

Âm đạo là đoạn cuối cùng của ống dẫn trứng. Từ dạ con, âm đạo được tách ra bằng phần thu hẹp cổ tử cung, nơi đó có van cơ. Phần cuối cùng của âm đạo được mở ra và đi vào đoạn giữa ổ nhớp, gần niệu quản trái. Âm đạo dài 7 - 12 cm. Niêm mạc nhăn, không có tuyến. Lớp biểu mô của âm đạo sản xuất ra dịch tiết, tham gia vào sự hình thành lớp màng trên vỏ, lớp cơ phát triển tốt, nhất là lớp cơ vòng, nhờ sự co bóp của lớp cơ này mà quả trứng được đấy ra ngoài qua lỗ huyệt.

Động tác đẻ trứng là quá trình phản xạ phức tạp. Những thụ cảm niêm mạc âm đạo được kích thích bằng quả trứng nằm trong nó. Những xung động từ cơ quan thụ cảm làm cho cơ âm đạo và dạ con co bóp mạnh. Nhờ có co bóp đồng thời của cơ dạ con và cơ âm đạo nên trứng được đấy qua ổ nhớp mà không chạm vào vách, nên bề mặt vỏ trứng mới không bấn.

Trong sự điều chỉnh đẻ trứng có sự tham gia của hocmon được hình thành trong nang trứng. Động tác đẻ trứng nằm dưới sự điều khiển của các vùng cao cấp của hệ thần kinh trung ương.

Thay đổi liên tục điều kiện nuôi dưỡng (thay đổi chuồng, chuyển gà từ nhà này sang nhà khác, thay đổi ché độ nuôi dưỡng...) có thể làm cho chim ngừng đẻ một thời gian dài.

Chu kỳ đẻ trứng. Đẻ trứng là bản năng của quá trình sinh sản. Chim rừng thể hiện rõ hoạt tính sinh dục có chu kỳ theo mùa và do đó chu kỳ đẻ trứng phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh. ở một số giống chim nghiệp cao sản, tính đẻ trứng theo mùa không còn nữa. Điều chỉnh chế độ nuôi dưỡng tốt thì duy trì được sản lượng trứng cao trong thời gian dài. Chim cút cao sản có thể đẻ trên 300 trứng trong một năm.

Phần lớn chim cút đẻ mỗi ngày 1 quả, không nghỉ trong một thời gian có thể dài hoặc thời gian ngắn. Thời gian chim cút đẻ trứng liên tục, không nghỉ gọi là chu kỳ đẻ trứng. Các chu kỳ có thể dài hoặc ngắn. Thời gian kéo dài của chu kỳ phụ thuộc vào thời gian hình thành 1 quả trứng. Ở chim cút đẻ, thời gian cần thiết để hình thành 1 quả trứng là 24 đến 28 giờ (trung bình là 25 giờ). Nếu trứng được hình thành dưới 24 giờ thì gà đẻ liên tục (ngày một) và chu kỳ đẻ trứng có thể kéo dài (4 - 6 trứng và hơn). Gà đẻ kỷ lục có thể đẻ tới trên 200 trứng trong một chu kỳ. Nếu như trứng được hình thành trên 24 giờ thì gà sẽ đẻ cách nhật. Sự kéo dài quá trình hình thành trứng ở gà đẻ sẽ làm cho trứng nằm trong dạ con lâu. Nếu như vào nửa ngày thứ hai mà không có hiện tượng rụng trứng, thì chim cút sẽ đẻ trứng cách nhật. Ví dụ, quả trứng hình thành trong 26 giờ thì trứng đẻ vào những ngày sau sẽ lệch sang 8, 10, 12, 14 giờ của ngày, và sau đó là cách nhật. Như vậy, thời gian cần thiết để hình thành quả trứng càng nhiều thì chu kỳ đẻ trứng càng ngắn và càng kéo dài thời gian cách nhật. Ngược lại, chu kỳ càng dài thì thời gian nghỉ càng ngắn.

Chu kỳ đẻ trứng của chim cút đẻ gồm chu kỳ ổn định và không ổn định. Chim cút đẻ trứng tốt có chu kỳ ổn định và kéo dài. Những chim cút đẻ kém chu kỳ thường ngắn, còn thời gian giữa các chu kỳ thì dài, cho nên sản lượng trứng thấp. Chim cút đẻ tốt trong một năm cho tới trên 300 quả.

Bản năng ấp trứng liên quan đến khả năng đẻ trứng và phản xạ không điều kiện. Ở chim cút đã mất bản năng ấp trứng nên có năng suất trứng cao

Vào thời điểm đẻ trứng, tuyến yên tiết oxitoxin tăng lên, này kích thích co bóp các cơ trơn của thành ống dẫn trứng.

Toàn bộ các quá trình sinh sản được điều khiển bởi hoạt động của tuyến yên và vùng dưới đồi thị. Tỷ lệ đẻ của chim phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loài, giống, lứa tuổi, trạng thái sinh lý, đặc điểm cá thể, điều kiện ngoại cảnh, điều kiện nuôi dưỡng...

Trong các yếu tố môi trường thì ánh sáng có ảnh hưởng nhất đến sự phát triển và chức năng của cơ quan sinh dục con mái. Kéo dài sự chiếu sáng khác nhau thì kích thích hoặc ức chế hoạt tính sinh dục của chim. Nuôi chim con trong điều kiện ngày chiếu sáng dài hơn thì

thời gian thành thục sinh dục rút ngắn đi. Dùng thêm ánh sáng nhân tạo, sự thành thục sinh dục ở chim sẽ sớm hơn. Nhưng nếu sự thành thục sinh dục quá sớm thì chim có khối lượng bé và sẽ đẻ trứng bé. Khi sự thành thục sinh dục muộn thì chim đẻ trứng to hơn. Trong điều kiện chăn nuôi chim công nghiệp, sự điều chỉnh chế độ ánh sáng và dinh dưỡng cần được hết sức chú ý sao cho chim đẻ đúng tuổi, khi cơ thể đã tương đối hoàn chỉnh và có khối lượng chuấn, nhằm tăng năng suất sinh sản.

Tập tính sinh sản của bồ câu

Sự thành thục sinh dục của chim bồ câu xảy ra từ lúc 3 tháng rưỡi cho tới 7 - 8 tháng tuổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

Về giống: nhìn chung những giống chim bồ câu có tầm vóc nhỏ đẻ sớm hơn những giống to hơn.

-    Mùa sinh nở: những con chim bồ câu non nở vào mùa xuân thành thục sinh dục sớm hơn.

-    Có sự khác nhau khá nhiều giữa những cá thể trong cùng một giống.

Tập tính sinh sống của chim bồ câu thu hút sự chú ý của con người: chim bồ câu sống thành từng đôi; có tổ riêng, được con trống bảo vệ và những tập tính “yêu đương” đằm thắm và thuỷ chung.

Sự đẻ trứng

Sau khi đã ghép đôi, từ 8 tới 12 ngày sau, chim câu mái đẻ quả trứng đầu tiên. Thông thường chim mái đẻ 2 trứng/ lứa, với khoảng thời gian đẻ trứng thứ nhất đến trứng thứ hai là 44 giờ. Hiếm khi chim mẹ chỉ đẻ một trứng và có thể hiếm hơn nữa là đẻ 3 trứng. Chim bồ câu mái đẻ quanh năm.

Theo số liệu của Viện chăn nuôi quốc gia, mỗi năm một cặp chim bồ câu sinh sản được 17,73 trứng; với tỷ lệ nở là 88% thì sẽ có 15,6 chim bồ câu sơ sinh. Khoảng cách đẻ giữa hai trứng thứ nhất và thứ hai là 36 giờ và khoảng cách của lứa thứ nhất và lứa thứ hai là 40 ngày (từ 32 đến 49 ngày). Tuy nhiên, những chỉ số sinh sản nêu trên có thể thay đổi theo mùa, chế độ chiếu sáng, sự dinh dưỡng...

Theo Bernard Lardeur, khoỉng cách giữa 2 trứng của một con chim bồ câu mái trung bình là 44 giờ.

Vài giờ trước khi đẻ, ống dẫn trứng và lỗ huyệt con mái đều phồng to ra. Có những cơn co thắt ở chim mái mà nó không kiểm soát được. Vài phút trước lúc trứng đẻ ra, chim mái như bị tê liệt và nằm yên một chỗ.

Chim bồ câu đẻ trải dài trong năm, lứa nọ tiếp lứa kia, khoảng cách giữa hai lứa đẻ xấp xỉ 40 ngày, mỗi năm chim đẻ khoảng 9 lứa, được 16 - 18 trứng; tỷ lệ trứng không phôi là 5 - 10%; tỷ lệ ấp nở 80 - 90%. Như vậy trong những điều kiện quản lý chăn nuôi hợp lý, một cặp chim câu bố mẹ có thể nở ra 12 - 14 chim con, đây là hiệu suất chăn nuôi khá cao.

Trong những trại chim bồ câu quy mô lớn hoặc ở những trại nuôi thích nghi những giống chim bồ câu chim con mới nhập nội thì hiệu quả sinh sản chưa cao: chỉ 7 - 8 chim con ra ràng/ một cặp bố mẹ trong 1 năm. Nhưng với thời gian thích nghi và kỹ thuật chăn nuôi ngày một nâng cao, hiệu quả sinh sản sẽ được nâng lên.

Sau khi cặp đôi, chim thường đẻ quả thứ nhất vào buổi chiều, khoảng 5 - 7 giờ tối. Quả trứng đầu tiên thường nhỏ hơn các trứng sau. Trứng “so” thường có hình dáng chưa hoàn chỉnh, và có các đốm lạ; nếu được thụ tinh thì vấn ấp nở bình thường.

Sau 36 - 48 giờ, chim mái đẻ quả trứng thứ hai. Đôi khi chim ấp ngay sau khi đẻ quả trứng đầu tiên, do đó quả trứng thứ nhất sẽ nở trước quả thứ hai 36 giờ. Thường con chim nở trước sẽ có kích thước gấp đôi chim con nở sau do nó khoẻ hơn sẽ ăn nhiều hơn, chim con thứ hai dễ bị chèn ép, nếu không can thiệp kịp thời thì con chim bé này dễ bị chết hoặc còi cọc. Để ngăn ngừa hiện tượng này, ta nên lấy quả trứng đẻ trước ra khỏi tổ, và sẽ trả lại tổ sau khi chim mẹ đẻ xong quả trứng thứ hai. Nên chú ý cất giữ trứng ở nơi mát, tối, trên giấy mềm, tránh dập vỏ.

| Chia sẻ |
THẢO LUẬN  
Chưa có thảo luận nào
Ý KIẾN CỦA BẠN  
  Hãy đăng nhập để thảo luận

Tin cùng loại cũ hơn