Tìm kiếm sản phẩm: Tìm nâng cao

Chim bồ câu trong huyền thoại

Đăng ngày: 22/01/2014 21:58
Chim bồ câu trong huyền thoại
chim bồ câu
Thượng đế Jehova tạo ra đàn ông là Adam, rồi lại lấy một cái xương sườn của Adam tạo ra phụ nữ - bà Eva, từ đó con cháu của họ sinh sôi nảy nở và làm ăn sinh sống rất hưng thịnh

Chim bồ câu là biểu tượng của hoà bình, nguồn gốc như sau:

Trong Kinh Thánh có đoạn như thế này: “Thượng đế Jehova tạo ra đàn ông là Adam, rồi lại lấy một cái xương sườn của Adam tạo ra phụ nữ - bà Eva, từ đó con cháu của họ sinh sôi nảy nở và làm ăn sinh sống rất hưng thịnh.

Nhưng trong nhân loại lại sản sinh ra những kẻ tham lam hưởng lạc, không nghĩ tới chuyện lao động, vì thế mới nảy sinh những tội lừa bịp, hủ hoá và bạo lực, nền tảng đạo đức của nhân loại bắt đầu bị hủy hoại. Thượng đế nổi giận, quyết định dùng nạn hồng thuỷ để huỷ diệt thế giới này.

Hình ảnh về chim bồ câu

chim bồ câu

Cháu đời thứ chín của Adam là Noe, có tộc trưởng của tộc Hebrơ là một người hết sức trung thành với Thượng Đế. Ông chủ trương giữ trọn chính nghĩa, căm ghét sâu sắc các điều ác trong loài người. Thượng Đế chỉ thương người này nên không nỡ để ông ta chết. Một hôm Thượng Đế bảo Noe rằng mặt đất sắp bị hồng thuỷ nhấn chìm. Noe phải lập tức làm một con thuyền hình vuông có ba tầng để tránh nạn. Noe tuân theo lời căn dặn của Thượng Đế, làm xong chiếc thuyền hình vuông, đưa tất cả mọi người trong gia đình cùng với gia súc, gia cầm trong nhà đưa lên thuyền.

Trận hồng thuỷ kéo dài 150 ngày, ngập chìm tất cả núi cao và nhà cửa, làm chết tất cả loài người, chỉ riêng có gia đình Noe là vô sự. Đến khi nước sắp sửa rút, Noe quyết định thả con chim bồ câu cho nó đi thám thính, nhưng con chim chỉ lượn hết một vòng rồi bay về. Noe biết rằng khắp các nơi vẫn còn là nước, cho nên con chim không có chỗ nào để đậu. Vài ngày sau, Noe lại thả chim bồ câu. Lúc con bồ câu trở về, trên mỏ nó ngậm nhánh trám mầu xanh, Noe nhìn thấy thế hết sức sung sướng, vì ông hiểu rằng nước lụt đã rút, để lộ ra những nhánh cây non nhô lên khỏi mặt nước, thế là ông đưa tất cả gia đình trở về lục địa, bắt đầu xây dựng một cuộc sống mới”.

Chuyện con chim bồ câu và nhánh trám báo trước cuộc sống hoà bình và an lành đã theo Kinh Thánh mà được phổ biến ra toàn thế giới. Đến những năm 30 thế kỷ XVII, ở châu Âu nổ ra một cuộc chiến tranh kéo dài hơn 30 năm trời, làm cho châu Âu, đặc biệt là nhân dân Đức chìm trong đau thương trầm trọng. Thời bấy giờ, tại một số thành thị ở nước Đức, lưu hành một thứ khăn kỷ niệm, trên vẽ hình con chim bồ câu ngậm một nhành trám, phản ánh nguyện vọng mong chờ hoà bình của nhân dân, vì thế con chim bồ câu và nhánh trám đã tượng trưng cho hoà bình.

Sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà hoạ sỹ lớn Picasso đã vẽ một con chim bồ câu trắng đang bay, gửi tặng Đại hội Hoà bình toàn thế giới, người ta gọi con chim bồ câu này là Chim bồ câu hoà bình.

Đó là câu chuyện trong Kinh Thánh, còn trong Kinh Phật có đoạn thế này

Đức Phật kể rằng: thuở xưa, lúc nhà vua Dòng Bra-ma-na ngự trị tại Bra-ma-na-thi, Đức Phật Như Lai là một con bồ câu sống an vui với cha mẹ, họ hàng trong một cánh rừng nhiều trái ngon nước ngọt.

Mỗi ngày, khi vừng thái dương ló dạng, họ hàng nhà bồ câu đều thức giấc, ra khỏi ổ ấm, xòe cánh rỉa lông, líu lo ca hát, rồi tung bay từng đoàn đi kiếm ăn. Đến trưa, trời nóng bức, kẻ chui vào những lùm lá tươi mát mẻ ấn mình, con xuống suối nô đùa trong dòng nước lạnh. Chiều đến, trước sau, các đoàn lần lượt trở về tổ, chờ đêm đến là gác mỏ lên cửa, thưởng ngoạn những hột ngọc lóng lánh trên nền trời xanh.

Nhưng bất hạnh thay cho giống bồ câu! Trong xứ có một anh chàng chuyên nghề đặt bẫy chim, hắn trát lên cành cây có trái chín một chất nhựa oái ăm, con chim nào dẫm lên đấy là chân bị dính chặt, dù có cố đập đến gãy đôi cánh cũng không thế nào thoát nạn. Hớn hở, anh chàng độc ác leo lên bắt từng con mang về, bỏ vào lồng sơn vẽ rất đẹp, nuôi dưỡng như con cưng, đợi đến khi thân tròn thịt béo, anh mang ra chợ bán với giá rất đắt.

Họ hàng bồ câu nhà ta rất biết cái mánh khóe bất lương của chàng đặt bẫy, thường bảo nhau phải cấn thận trong khi vào rừng kiếm trái. Nhưng một hôm, quá mê chơi đuổi bắt, ta lại dẫm lên chất nhựa chết người. Vừa cảm nhận được cái sự dính chặt của nhựa, ta biết ngay là nguy to đã đến, đạp chân trái xuống để rút chân phải lên, không ngờ, cả 2 chân đều dính chặt... Thôi rồi! Thôi ròi!... Còn đâu cảnh đoàn tụ, còn đâu cuộc đời êm ấm trong bầu trời tự do... Ta cất tiếng thảm sầu kêu to. Cha mẹ, họ hàng vừa bay đến là bóng chàng đặt bẫy lù lù hiện ra dưới gốc cây. Vù một cái, bao nhiêu người thân yêu đều bay đi tứ tán, để mình ta trong tuyệt vọng và sợ hãi. Anh chàng thợ bẫy từ từ leo lên, gỡ ta ra khỏi nhựa, ta vùng vẫy muốn bay, nhưng than ôi! Sức con bồ câu non đâu bì được với bàn tay của kẻ lục lâm! Thôi đành cho số kiếp! T a được bỏ vào một cái lồng tre, trong đó đã có đôi bà con xa đồng phận.

Chàng thợ bẫy, thấy trời đã gần trưa, quảy lồng ra về. Đến nhà, hắn bắt từng chú câu, bỏ vào một cái lồng lưới lớn. Quả như những câu chuyện ta đã nghe từ trước, trong chốn ngục tù, không thiếu một thức ăn đồ uống nào, lại còn cửa sơn, phòng rộng, kể ra phong lưu không biết gấp mấy lần những cái ổ tranh chốn quê nhà. Nhưng ta biết rồi, tham những cái của này là có ngày bị đem ra chợ bán, rồi sau đó sẽ nếm cảnh "chảo sôi dầu bỏng" để thành chim rán mà thôi, rồi sẽ xương tan thịt nát cùng với rượu và gia vị trên bàn nhắm..

Ta lập tâm tuyệt thực cho mình gầy cong queo, ta quyết bỏ ăn, không hề động đến những hạt thóc no tròn của chủ nhà đặt cạnh bên. cùng sơn hào hải vị.

Một hôm, hai hôm, ba hôm ... ta vẫn nén lòng chịu đói. Đến sáng ngày thứ tư, anh chàng đến thăm. Thấy ta tiều tụy, hắn có vẻ lấy làm lạ. Nhẹ mở cửa lồng, anh bắt ta ra và nhẹ nhàng đặt ta lên lòng bàn tay, đưa lên ngang mắt để xem vì cớ gì mà ta xanh xao vàng úa. Thấy vậy, ta càng vật vờ, ẻo lả. chàng không còn nghi kỵ gì nữa, để ta đứng run rấy trên đôi chân yếu ớt. Hắn biết đâu rằng lâu nay ta chỉ đợi chờ có phút giây này.. Khi hắn vừa quay đầu vì có tiếng động sau lưng, ta gồng mình, dồn hết sức tàn lực kiệt, tung đôi cánh, vọt lên trời cao, hít mạnh khí trời, dang đôi cánh, bay thẳng về với núi rừng bao la, để lại tất cả sự ngạc nhiên và nỗi ân hận cho kẻ thợ săn "ác độc”.

Nói đến đây, Đức Phật thố lộ: “Chàng đặt bẫy kia, chính là Đề Bà Đạt Đa ngày nay vậy”.

Trong văn học, thi ca. bồ câu là hiện thân của tình bạn chân thành và vẻ đẹp thánh thiện mà kẻ khác phải mơ ước, thể hiện qua 2 tuyệt tác của đại văn hào La Phonten và A. Tolstoy . Chuyện thứ nhất, bồ câu và kiến, kể rằng, một hôm, sau trận mưa to, trong rừng nọ, có một chú kiến đang bị nước lũ cuốn trôi trên dòng suối chảy xiết. Một chú chim bồ câu nhìn thấy, thương bạn, bồ câu vội vàng thả một cành cây nhỏ xuống suối để kiến bám vào, nhờ đó mà thoát chết. Đến hôm khác, kiến đang đi kiếm ăn thì thấy một người đi săn đang dương cung nhằm bồ câu đang ung dung rỉa lông trên cành cây để bắn. Kiến vội vàng lao đến, trèo lên chân người đi săn và cắn cho hắn một miếng. Bị đau bất ngờ, người đi săn giật mình, đánh rơi cung xuống đất, nhờ vậy, chim thức tỉnh mà bay thoát.

Chuyện thứ hai, bồ câu và quạ, kể rằng, có một con quạ đen nhìn thấy bồ câu trắng rất xinh đẹp, lại được mọi người yêu mến, nó bèn quét vôi lên khắp mình rồi chui vào tổ bồ câu. Thấy chim trắng chui vào, họ nhà bồ câu không ai phát hiện ra, nhưng khi hỏi chuyện, quạ cất lên tiếng nói khàn khàn đáng gét, làm lộ chân tướng của kẻ gian. Cả nhà bồ câu vác gậy, đánh cho quạ một trận, khiến nó phải vội vàng tấu thoát khỏi nhà chim. Nhưng đáng thương thay, khi về đến nhà, họ nhà quạ lại không nhận ra nó vì có màu lông lạ, kiên quyết không cho vào. Thật đáng đời cho kẻ không biết mình là ai!

| Chia sẻ |
THẢO LUẬN  
Chưa có thảo luận nào
Ý KIẾN CỦA BẠN  
  Hãy đăng nhập để thảo luận

Tin cùng loại cũ hơn