Tìm kiếm sản phẩm: Tìm nâng cao

Tình hình phát triển chăn nuôi trên thế giới những năm gần đây và xu hướng phát triển

Đăng ngày: 17/01/2014 00:21
Tình hình phát triển chăn nuôi trên thế giới những năm gần đây và xu hướng phát triển
chim bồ câu
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi trên thế giới đã có nhiều biến động cả về tốc độ phát triển, phân bố lại địa bàn và phương thức sản xuất

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi trên thế giới đã có nhiều biến động cả về tốc độ phát triển, phân bố lại địa bàn và phương thức sản xuất, đồng thời xuất hiện nhiều nhân tố bất ổn như gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, vệ sinh an toàn thực phấm và nhiều dịch bệnh mới...

chim bồ câu

Tình hình sản xuất và tiêu thụ thịt trên thế giới

Thịt và sản phấm thịt là nguồn cung cấp quan trọng nhất về đạm, vitamin, khoáng chất. cho con người. Chất dinh dưỡng từ động vật có chất lượng cao hơn, dễ hấp thu hơn là từ rau quả. Trong khi mức tiêu thụ thịt bình quân đầu người ở các nước công nghiệp rất cao thì tại nhiều nước đang phát triển, bình quân dưới 10 kg, gây nên hiện tượng thiếu và suy dinh dưỡng. Ước tính, có hơn 2 tỷ người trên thế giới, chủ yếu ở các nước chậm phát triển và nghèo bị thiếu vitamin và khoáng chất, đặc biệt là vitamin A, iodine, sắt và kẽm, do họ không được tiếp cận với các loại thực phấm giàu dinh dưỡng như thịt, cá, trái cây và rau quả.

Bảng 1. Sản xuất và tiêu thụ thịt trên thế giới trong một số năm gần đây

Chỉ tiêu

2006

2007

2008

Tăng 2008 so với 2007

 

Triệu tấn %

Sản xuất

271.5

274.7

280.9

2.3

Thịt bò

65.7

67.2

68.0

1.1

Thịt gia cầm

85.4

89.5

92.9

3.8

Thịt lợn

101.7

98.8

100.6

1.8

Thịt dê cừu

13.3

13.7

14.0

2.0

Buôn bán

21.4

22.5

23.1

3.0

Thịt bò

6.8

7.1

7.2

1.0

Thịt gia cầm

8.5

9.2

9.6

4.3

Thịt lợn

5.0

5.0

5.3

5.2

Thịt dê cừu

0.8

0.9

0.8

-5.9

Tình hình tiêu thụ

Bình quân kg/đầu người/năm

Toàn thế giới

41.6

41.6 42.1

1.1

Các nước phát triển

81.1

82.4 82.9

0.7

Đang phát triển

30.7

30.5 31.1

1.8

 

 

Chỉ số tăng giá

 

Năm

2006

2007 2008

Tăng từ 2007đến 2008 (*)

(Lấy giá năm 1998-

115

121 131*

10%

2000 là 100%)

 

 

 

Sản lượng sữa toàn cầu năm 1999/2002 là 580 triệu tấn, dự kiến đến năm 2050 là 1043 triệu tấn.

Để đủ chất dinh dưỡng, mỗi người cần được ăn trung bình 20 g đạm động vật/ngày hoặc 7,3 kg / năm, tương đương với 33 kg thịt nạc, hoặc 45 kg cá, hoặc 60 kg trứng, hay 230 kg sữa. Nguồn cung cấp: thịt được cung cấp chủ yếu là từ chăn nuôi các động vật nông nghiệp: bò, lợn, gia cầm; một ít trâu, dê và cừu. Trong đó, thịt lợn là phổ biến nhất, chiếm trên 36%, tiếp theo là gia cầm, 33% và thịt bò, 24%.

Một số khu vực khác còn có thêm thịt lạc đà, bò tây tạng, ngựa, đà điểu, bồ câu, chim cút... ngoài ra còn thịt cá sấu, rắn, thằn lằn...

Bảng 2. Số lượng vật nuôi và tỷ trọng các loại thịt

(ĐVT: triệu con)

Loại vật nuôi

1987

1997

2007

Tăng từ 1987-2007 (%)

Tỷ trọng thịt (%)

1345

1469

1558

16

24

Lợn

821

831

993

21

36

Gia cầm (tỷ)

10

16

19

95

33

Dê cừu

1431

1721

1931

34

7 (cả thịt khác nữa)

Việc tiêu thụ thịt còn phụ thuộc vào văn hóa, sở thích, niềm tin, tôn giáo của người tiêu dùng. Hiện nay, mức tiêu thụ thịt bình quân đầu người trên thế giới là gần 42 kg/năm, chỉ tiêu này vẫn không ngừng tăng lên và rất chênh lệch giữa các vùng và khu vực. Tại các nước đang phát triển, tiêu thụ bình quân chỉ là 30 kg, trong khi tại các nước phát triển là trên 80 kg. Các chuyên gia dự đoán rằng, đến năm 2050, sản lượng thịt toàn thế giới sẽ tăng gấp đôi, vào khoảng 465 triệu tấn. Sự tăng giá lương thực, thực phấm trong thời gian gần đây đã thúc đấy người tiêu dùng lựa chọn các loại thịt giá rẻ hơn, chẳng hạn như thịt gà. Sản lượng thịt gia cầm toàn cầu trong năm 2007 là 93 triệu tấn, tăng 4% hàng năm.

Hoa Kỳ là nước sản xuất các sản phấm gia cầm lớn nhất thế giới, tiếp theo là các nước Argentina, Brazil, Trung Quốc, Philippin, và Thái Lan. Ân Độ có mức tăng chậm hơn vì sự lây lan mạnh của vi rút H5N1, dịch cúm gia cầm đã giết hàng triệu gia cầm.

Năm 2007, sản lượng thịt lợn đã tăng gần 2 %, đạt 101 triệu tấn. Cũng năm này, dịch bệnh về đường hô hấp đã làm giảm ít nhất 1 triệu con ở Trung Quốc. Tuy vậy, nước này vẫn tiếp tục dẫn đầu thế giới về sản xuất thịt lợn, cho dù ngành chăn nuôi lợn đang được mở rộng ở Nam Mỹ: Argentina, Brazil, và Chile. nhờ vào lợi thế có thức ăn dồi dào, giá rẻ.

Trong năm 2007, sản lượng thịt bò tăng 2,3 %, đạt gần 67 triệu tấn. Hoa Kỳ vẫn là nước lớn nhất thế giới sản xuất các sản phấm thịt bò. Mặc dù vậy, 56 % sản lượng thịt bò vẫn do các nước đang phát triển cung cấp.

Về thức ăn, hơn 1/3 ngũ cốc và 90% đậu tương trên thế giới không phải để làm thức ăn cho người mà để làm thức ăn gia súc. Sản xuất đậu tương làm thức ăn gia súc ước tính tăng 60% trong năm 2020. Sự gia tăng này đã làm mất đi nhiều cánh rừng đại ngàn quý giá ở Bra-xin, Pa-ra-goay và Argentina, làm mất đi môi trường sống hoang dã và đa dạng sinh học. Việc trồng đỗ tương đã làm mất đi 8 tấn đất/ha/năm do sói mòn và rửa trôi (WWF), nhiều cánh rừng bị thu hẹp lại, nhường chỗ cho các cánh đồng đậu tương bạt ngàn.

Chăn nuôi tức là chuyển đạm thực vật thành đạm động vật. Việc sản xuất protein động vật từ thực vật đã giảm hiệu quả đi rất nhiều. Trên một diện tích là 1 acer (gần 4000 m2), nếu trồng đậu tương sẽ thu được 356 pound (0,45kg) protein hữu dụng; lúa 261; ngô 211; ngũ cốc khác 192; lúa mì 138; trong khi đó, cũng trên diện tích đó, nếu sản xuất sữa chỉ thu được 82 pound; trứng 78; thịt các loại 45; thịt bò 20 pound protein hữu dụng mà thôi.

về năng lượng, cần phải chuyển hóa 4,5 calo thực vật để có 1 calo trứng, với thịt bò là 9 calo. Để sản xuất 1 kg thịt hơi, người ta phải tiêu tốn 10 kg thức ăn cho bò, 4 - 5,5 kg cho lợn và 2,1 - 3 kg cho gà.

Sản xuất chăn nuôi tiêu thụ rất nhiều nước sạch, từ1995-2025, lượng nước này đã tăng lên 71%. Dự kiến, đến năm 2025, 64% dân số thế giới sẽ sống trong các khu vực thiếu nước ( IFPRI, FAO, 2006). Trên thế giới, bình quân mỗi người tiêu thụ18.250 lít nước/năm, trong khi đó, để sản xuất 1 kg thịt bò, đã tiêu thụ tới 20.000 lít nước (Liu J. và Savenije H. 2008 Lunqvist J. et al. 2008 SIWI).

Con giống: trong những năm qua, các nhà chăn nuôi đã rất nỗ lực nghiên cứu để cải tiến chất lượng thịt và sản phấm chăn nuôi, đặc biệt là kết hợp các đặc điểm tốt của vật nuôi bằng biện pháp lai giống, họ đã tạo ra nhiều tổ hợp vật nuôi có chất lượng thịt và thân thịt cao, có khả năng kháng bệnh.

Giống bò: bò gốc châu Á như bò Brahman, Gyr cùng cùng con lai của chúng đang được phổ biến tại hầu hết các nước nhiệt đới. Các giống Angus, Charolais, Hereford, Limousin và Simmental phổ biến ở châu Âu. Bên cạnh đó, giống bò Wagyu của Nhật Bản và con lai của chúng với bò châu Âu cũng ngày càng phổ biến.

Giống gà: hầu hết các giống gà nhà hiện nay trên thế giới đều có nguồn gốc từ giống gà lông màu của châu Á, chúng to hơn, có năng suất cao hơn tổ tiên, được chia làm 4 nhóm: chuyên trứng, chuyên thịt (hoặc kiêm dụng), làm cảnh và gà chọi, bao gồm 1233 giống đã được công nhận. Hầu hết gà thương phấm đều là con lai.

Giống lợn: trên khắp thế giới, có rất nhiều giống lợn bản địa đang tồn tại, chúng thích nghi tốt với các điều kiện địa phương. Lợn thương phấm bao gồm các giống chủ yếu: Landraces (Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Ý.), các giống Đại bạch ở châu Âu, được lai với giống Pietrain của Bỉ. Ớ châu Á, có các giống lợn đen Bắc Kinh, Meissan, của Trung Quốc và Móng Cái của việt Nam rất phổ biến.

Cũng như ở gà, hầu hết lợn thương phấm đều là con lai.

| Chia sẻ |
THẢO LUẬN  
Chưa có thảo luận nào
Ý KIẾN CỦA BẠN  
  Hãy đăng nhập để thảo luận

Tin cùng loại cũ hơn